Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

PEAP Authentication process

PEAP Authentication process


1. The client sends an EAP Start message to the access point
2. The access point replies with an EAP Request Identity message
3. The client sends its network access identifier (NAI), which is its username, to the access point in an EAP Response message
4. The access point forwards the NAI to the RADIUS server encapsulated in a RADIUS Access Request message
5. The RADIUS server will respond to the client with its digital certificate
6. The client will validate the RADIUS server's digital certificate
7. The client and server negotiate and create an encrypted tunnel
8. This tunnel provides a secure data path for client authentication
9. Using the TLS Record protocol, a new EAP authentication is initiated by the RADIUS server
10. The exchange will include the transactions specific to the EAP type used for client authentication
11. The RADIUS server sends the access point a RADIUS ACCEPT message, including the client's WEP key, indicating successful authentication

(Source)

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016

How to plot using specific rows of data file with Gnuplot


In many cases you probably want to filter a raw data file in various fashions before plotting the data with Gnuplot. In some cases, you may want to use only specific rows (e.g., from line 10 to 100) of a data file in your plot. With gnuplot, you can specify a range of data to plot in two different ways.

Method One

The first method is to use gnuplot's "every" option in the plot command. The "every" option is used in the following form:
plot "my.dat" every A:B:C:D:E:F

A: line increment
B: data block increment
C: The first line
D: The first data block
E: The last line
F: The last data block
To plot the data starting from line 10:
plot "my.dat" every ::10
To plot the data from line 10 to line 100:
plot "my.dat" every ::10::100
To plot data starting from the first line till line 100:
plot "my.dat" every ::::100

Method Two

An alternative way to plot specific rows of data file is to use input redirection. That is, use any external program to process raw data file, and redirect the output to gnuplot. Assuming that sed is installed on your Linux system, you can simply do:
plot "<(sed -n '10,100p' my.dat)"
As you can imagine, sed program prints out data between line 10 and line 100, and feeds it to gnuplot for plotting.

(Source)

Apache Bench (ab) timings explained visually

Apache Bench (ab) is a HTTP load testing tool. ab can be configured to output the raw timings:
$ ab -n 5 -g raw-data 'https://google.com/' > /dev/null
$ cat raw-data
starttime   seconds ctime   dtime   ttime   wait
Wed Aug 06 19:11:27 2014    1407348687  8   2   10  2
Wed Aug 06 19:11:27 2014    1407348687  8   2   11  2
Wed Aug 06 19:11:27 2014    1407348687  9   2   11  2
Wed Aug 06 19:11:27 2014    1407348687  9   3   12  3
Wed Aug 06 19:11:27 2014    1407348687  9   9   18  8
However, ctime, dtime, ttime & wait are not documented.
Through Wireshark wrangling and reading the ab source file, I managed to figure out what they are:
  • assumes first byte from server comes after when the request is written
  • the diagram is ugly, sorry
If it still isn’t clear, or if it’s inaccurate, please tell me.

(Source)

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Hướng dẫn cách rút tiền nhanh và tiết kiệm nhất từ Upwork và Elance (Phần V)

  (Source: link)
Thù lao luôn là vấn đề nan giải đối với các freelancer, nhất là những bạn mới vào nghề vì thu nhập còn thấp và chưa có nhiều kinh nghiệm rút tiền khi hai trang này đều hỗ trợ nhiều phương thức thanh toán. Mình đã có 4 năm làm việc và thú thật là mình đã có một thời gian không tìm hiểu về các vấn đề thanh toán nên có thể là đã lãng phí rất nhiều tiền từ việc rút tiền thù lao về Việt Nam.
Bài viết này xin chia sẻ một số kinh nghiệm, có thể chưa là giải pháp tối ưu nhất nhưng chắc sẽ giúp ích được nhiều bạn.


Hướng dẫn chung

Mỗi tài khoản trên Upwork và Elance đều có số dư (balance), sau khi hoàn thành dự án cho khách hàng bạn phải yêu cầu khách thanh toán hoặc giải phóng (release) số tiền được giữ trong Escrow. Tuy nhiên có vài vấn đề bạn cần lưu ý:

Đây là email thông báo từ Elance khách đã giải phóng thù lao cho một dự án của mình.

Upwork email thông báo khi khách hàng gửi tiền và đặt tiền cọc mới.

1. Nếu dự án bạn đang làm được tính theo giờ thì sau mỗi tuần, số thời gian bạn làm được sẽ nhân với đơn giá đã thỏa thuận và khách hàng sẽ bị trừ số tiền đó. Tóm lại là hoàn toàn tự động.
2. Đối với Upwork thì mọi thanh toán đều bị hold (giữ lại) để kiểm tra trong khoản 1 tuần mới được đưa vào tài khoản của bạn còn Elance thì ngay tức thì. Tuy nhiên Upwork khi có tiền rồi nếu bạn thực hiện thanh toán rút thì được giải quyết ngay tức thì còn Elance thì phải đợi (tối đa 24 giờ đối với các ví điện tử).
3. Mỗi trang đều hỗ trợ một số phương thức nhưng bạn phải thực hiện add các phương thức vào và xác nhận, sau khi hoàn tất thì đợi vài ngày mới dùng được. 

4. Có nhiều khách hàng hoặc chính bạn đề nghị khách hàng thanh toán riêng cho bạn để tiết kiệm phí trung gian của hai trang này. Việc làm này có lợi hay hại sẽ được mình bàn ở một bài khác vì có nhiều thứ đáng nói.
5. Khách hàng có thể thanh toán thưởng ngoài số tiền đã giao kèo (deal), tuy nhiên số tiền đó vẫn bị tính phí hoa hồng như bình thường.
Phương thức của tác giả là mình áp dụng để tối ưu chi phí ở 2 trang là:
Upwork: Rút về Paypal
Elance: Rút thẳng về Việt Nam (bank wire)
Tài khoản Paypal và Skrill đều liên kết với thẻ MasterCard của ngân hàng ACB. Thủ tục làm thẻ chỉ trong 15 phút, phí thường niên 100k (miễn phí năm đầu).
Và một số kinh nghiệm chung:
- Nên rút mỗi tháng một lần
- Không nên quá trông chờ vào thu nhập Freelancer cho chi phí hiện tại mà nên dự tính cho tháng tới.
- Làm sẵn thẻ Master, verify và gắn với tài khoản Paypal, Skrill sẵn để tiện rút bất kỳ lúc nào.
- Không nên hối thúc khách hàng thanh toán trừ khi họ đã trễ hẹn
- Nên đăng ký nhận thông báo tiền qua điện thoại (SMSBanking hoặc iBanking) để biết khi nào tiền về

Xin đọc tiếp để hiểu tại sao như vậy là rẻ nhất

Upwork (oDesk)

Như đã nói ở phần trước, phí hoa hồng thanh toán của Upwork là 10%. Tạm bỏ qua các vấn đề về thỏa thuận riêng với khách hàng. Ở đây chúng ta sẽ đi nhanh về các phương thức Upwork hỗ trợ:

1.       Payoneer: cái này mình không có dùng nên không bàn tới, nghe nói phổ biến cho bên Philipines
2.      Skrill: khá tuyệt vời, tỷ giá chuyển đổi USD > Việt Nam Đồng cao và lệnh rút tiền được giải quyết trong 24 giờ. Tức là hôm nay rút sớm (trong buổi chiều) thì mai có tiền (không tính Chủ Nhật). Phí rút một lần 1 USD. Khi rút về Skrill sẽ bị charge phí nhận tiền 3,9%.
3.       Direct Deposit/ACH: Cái này dành cho các freelancer ở Mỹ
4.      Wire Transfer: 30$ một lần rút. Mình chưa dùng bao giờ vì thường không để quá nhiều tiền ở trang này, nếu bạn có số dư tầm 1000$ trở lên thì hãy rút bằng phương thức này vì nó tiết kiệm hơn nếu rút qua Paypal hay Skrill.
5.      Paypal: phương thức mình ưa dùng nhất khi rút tiền. Paypal thật ra tính phí cao hơn Skrill, các bạn có thể google “Paypal calculator” để biết, cách tính của Paypal phức tạp hơn nhưng nói chung khi nhận tiền tự do sẽ bị charge phí cao hơn. Tuy nhiên Paypal không charge phí với các partner (đối tác) của nó và Upwork là một trong những đối tác lớn nên bạn không mất xu nào khi nhận tiền qua Paypal.
Lưu ý: Như đã nói ở trên, Upwork giữ thanh toán của khách hàng 1 tuần mới ghi có vào tài khoản của bạn. Nếu số dư của bạn hơn 1000$ thì Upwork sẽ tự động rút về hằng tháng cho bạn, việc này bạn có thể điều chỉnh lại để thanh toán tự động theo tuần, hai tuần một lần, theo tháng hoặc theo quý và chọn mức số dư bạn muốn tự động rút.
Nếu bạn là một freelancer bình thường sống ở Việt Nam không buôn bán Skrill, không có làm dự án quá to hay thích để dành tiền > 1000$ mới rút thì Paypal là lựa chọn tốt nhất.

Elance

Nhắc lại, phí hoa hồng thanh toán của Elance là 8,25-8,75%. Và đây là danh sách các phương thức Elance hỗ trợ:

1. Bank Transfer (chuyển khoản ngân hàng): Trước khi dùng nó, mình cũng dùng Paypal và Skrill, tuy nhiên khi biết Elance có hỗ trợ rút thẳng về Việt nam thì chuyển sang dùng cái này vì mỗi tháng Elance cho bạn rút miễn phí một lần, những lần rút kế tiếp thì charge phí 5$. Nên nếu bạn rút định kỳ theo tháng thì nên dùng cái này. Tuy nhiên, tỷ giá của Elance khá thấp, tương tự Paypal, và thời gian rút khoản 3 ngày. Ví dụ bạn rút thứ hai thì thứ năm có tiền trong tài khoản.
2. Paypal: Không charge phí rút. Lâu quá mình không rút về Paypal nên không rõ có bị charge phí nhận tiền không nữa.
3. Skrill: Không charge phí rút. Rút về vẫn bị tính 3,9% phí nhận tiền.

So sánh giữa Paypal và Skrill

Paypal:
Ưu điểm:
+ Uy tín
+ Đa chức năng
+ Có thể check tỷ giá tiền (USD/VND)
+ Chuyển khoản qua lại giữa các tài khoản không mất phí
Nhược điểm:
+ Thời gian rút lâu (đối với VN là 3 ngày, không tính T7, CN)
+ Tỷ giá thấp hơn so với thị trường vì phải qua trung gian. Ví dụ tỷ giá chính thức là 22.500VND/USD thì Paypal chỉ khoảng 21.634VND/USD
Skrill:
Ưu điểm:
+ Tốc độ xử lý nhanh
+ Giao diện đơn giản dễ dùng
+ Thời gian rút tiền cực nhanh trong 1 ngày
+ Tỷ giá quy đổi ngoại tệ lớn (không bị ăn phí trung gian)
+ Có nhiều loại thành viên và chế độ tích lũy điểm đổi quà.
Nhược điểm:
+ Luôn luôn tính phí nhận tiền 3,9% với mọi nguồn tiền nhận được
+ Chuyển tiền qua lại giữa các thành viên vẫn bị tính phí
+ Không có cơ chế lấy lại tiền nếu tài khoản bị hack như Paypal cho tài khoản thường.

Các bạn có bất kỳ câu hỏi về thanh toán nạp rút ở hai trang Upwork và Elance xin để lại bình luận, mình sẽ trả lời sớm nhất khi có thể.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

GlusterFS + IPtables

1. What ports does Gluster need?
Preferably, your storage environment should be located on a safe segment of your network where firewall is not necessary. In the real world, that simply isn't possible for all environments. If you are willing to accept the potential performance loss of running a firewall, you need to know that Gluster makes use of the following ports:
- 24007 TCP for the Gluster Daemon
- 24008 TCP for Infiniband management (optional unless you are using IB)
- One TCP port for each brick in a volume. So, for example, if you have 4 bricks in a volume, port 24009 – 24012 would be used in GlusterFS 3.3 & below, 49152 - 49155 from GlusterFS 3.4 & later.
- 38465, 38466 and 38467 TCP for the inline Gluster NFS server.
- Additionally, port 111 TCP and UDP (since always) and port 2049 TCP-only (from GlusterFS 3.4 & later) are used for port mapper and should be open.
Note: by default Gluster/NFS does not provide services over UDP, it is TCP only. You would need to enable the nfs.mount-udp option if you want to add UDP support for the MOUNT protocol. That's completely optional and is up to your judgement to use.

Vie:
- 24007 TCP tiến trình gluster
- 24008 TCP quản lý đường Infiniband
- 111 TCP tiến trình map port (RPC)
- 38465:38467 TCP kết nối trực tiếp đến IP GlusterFS server (đại diện cho volume mount)
Mở với mỗi IP của brick:
- 24009:24009+n TCP với n là số brick trong volume (bản GlusterFS cũ hơn ver 3.4)
- 38465:38465+n TCP với n là số brick trong volume (bản GlusterFS mới hơn từ ver 3.4)


# Gluster client IP: 232, 237
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 24007:24008 -d 10.58.49.232/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs client"
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 111 -d 10.58.49.232/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs client"
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m udp -p udp --dport 111 -d 10.58.49.232/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs client"
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 49152:49154 -d 10.58.49.232/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs brick1 client"
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 49152:49154 -d 10.58.49.237/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs brick2 client"
-A RH-Firewall-1-OUTPUT -m state --state NEW -m tcp -p tcp --dport 38465:38467 -d 10.58.49.232/32 -j ACCEPT -m comment --comment "mount nfs client"

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Cài đặt PHP OCI8 + PDO_OCI (instantclient 12.1) module

Trường hợp: cài máy chạy php không nằm trên máy cài oracle
PHP5.3.27

PHP OCI8
Bước 1: Download mấy cái file instantclient Link
Lưu ý: kiểm tra xem OS là x86 hay x86_64, nếu down sai thì sẽ có lỗi

unzip instantclient-basic-linux-12.1.0.1.0.zip
unzip instantclient-odbc-linux-12.1.0.1.0.zip
unzip instantclient-sdk-linux-12.1.0.1.0.zip
Giải nén ra (các file sẽ nằm cùng một thư mục vd: /usr/local/src/instantclient_12_1)

cd vào mấy con vẹo
ln -s libclntsh.so.*.1 libclntsh.so
(với * là 10,11,12.. vv)

Bước 2: cài đặt OCI8
Download oci8: Link (vd: oci8-1.4.10.tgz)

tar xvzf oci8-1.4.10.tgz
/usr/local/php5/bin/phpize
./configure --with-oci8=instantclient,/usr/local/src/instantclient_12_1 --with-php-config=/usr/local/php5/bin/php-config
make && make install

Bước 3: cấu hình php.ini thêm
extension=oci8.so

PDO_OCI
fix erorr: 
1. checking for oci.h... /x/x/x/x/include
configure: error: I'm too dumb to figure out where the libraries are in your instant client install
2. configure: error: Unsupported Oracle version!


Bước 1: Download pdo_oci link
Bước 2: giải nén tar xvzf PDO_OCI-1.0.tgz
Bước 3: download config.mp4 patch: link
Bước 4: sửa config.m4 (để chạy với instantclient 12.1)
tìm line: SUPPORTED_LIB_VERS="9.0 10.1 11.1"  # This caters for all Oracle 9.x, 10.x and 11.1 installs
-> thêm: SUPPORTED_LIB_VERS="9.0 10.1 11.1 12.1"  # This caters for all Oracle 9.x, 10.x and 11.1 installs

tìm line: case $PDO_OCI_VERSION in
    9.0|10.1|10.2|11.1|11.2)
-> thêm: case $PDO_OCI_VERSION in
    9.0|10.1|10.2|11.1|11.2|12.1)


Bước 5: Cài đặt
 /usr/local/php5/bin/phpize
./configure --with-pdo-oci=instantclient,/usr/local/src/instantclient_12_1,12.1 --with-php-config=/usr/local/php5/bin/php-config
make && make install

Bước 6: Enable module, thêm vào php.ini
; Enable pdo_oci (oracle) extension module
extension=pdo_oci.so



REFERENCE:
ORACLE: http://www.oracle.com/technetwork/articles/technote-php-instant-084410.html
OCI8: http://www.php.net/manual/en/oci8.installation.php
PDO_OCI config.mp4 patch: http://svn.php.net/viewvc?view=revision&revision=294487
PDO_OCI manual: http://php.net/manual/en/ref.pdo-oci.php
PDO_OCI v1.0 download: http://pecl.php.net/package/PDO_OCI

Thứ Hai, 26 tháng 8, 2013

[Syslog-ng] The BSD syslog Protocol

The BSD syslog Protocol

Cấu trúc một đoạn tin có 3 phần PRI, HEADER, MSG
Mỗi gói tin có độ dài: 1024 bytes hoặc nhỏ hơn

PRI: phải có 3, 4, hoặc 5 ký tự và phải nằm trong "<" và ">" (mã ASCII là: %d60 và %d62)
Đại diện cho Facility và Severity theo công thức: Facility*8 + Severity

           Table 1.  syslog Message Facilities
        Numerical         Severity
          Code
0 kernel messages 1 user-level messages 2 mail system 3 system daemons 4 security/authorization messages (note 1)
           5             messages generated internally by syslogd
           6             line printer subsystem
           7             network news subsystem
           8             UUCP subsystem
           9             clock daemon (note 2)
          10             security/authorization messages (note 1)
          11             FTP daemon
          12             NTP subsystem
          13             log audit (note 1)
          14             log alert (note 1)
          15             clock daemon (note 2)
          16             local use 0  (local0)
          17             local use 1  (local1)
          18             local use 2  (local2)
          19             local use 3  (local3)
          20             local use 4  (local4)
          21             local use 5  (local5)
          22             local use 6  (local6)
          23             local use 7  (local7)

           Table 2. syslog Message Severities

        Numerical         Severity
          Code

           0       Emergency: system is unusable
           1       Alert: action must be taken immediately
           2       Critical: critical conditions
           3       Error: error conditions
           4       Warning: warning conditions
           5       Notice: normal but significant condition
           6       Informational: informational messages
           7       Debug: debug-level messages

HEADER: Lưu thời gian (timestamp), hostname hoặc IP của thiết bị. Giá trị gồm ký tự chuẩn ASCII giống phần PRI (%d33-126) và dấu cách (%d32).
- Trường TIMESTAMP nằm sau dấu ">" của phần PRI, lưu thời gian theo định dạng "Mmm dd hh:mm:ss". Trong đó Mmm là viết tắt của tháng: 
         Jan, Feb, Mar, Apr, May, Jun, Jul, Aug, Sep, Oct, Nov, Dec
dd là ngày trong tháng, nếu ngày <10 thì dd gồm dấu cách và số. vd: ngày 7 tháng 8 sẽ được viết là "Aug  7" với 2 dấu cách.
hh:mm:ss là thời gian cục bộ. hh hiển thị theo định dạng 24 giờ (giá trị 00 -> 23). Phút (mm) và giây (ss) có giá trị 00 -> 59
- Trường HOSTNAME lưu tên máy chủ, hoặc IP (v4 hoặc v6) của nơi gửi log. Giá trị ưu tiên là tên máy chủ, được quy định theo chuẩn STD 13. Lưu ý, trong trường này không được phép có dấu cách (space). Không đi kèm tên miền với trường hostname. Tiếp sau trường HOSTNAME là một dấu cách (space)

MGS: Lưu phần còn lại của gói tin syslog. Gia trị gồm ký tự chuẩn ASCII (%d33-126) và dấu cách (%d32).
Bao gồm 2 trường: TAG và CONTENT. Trong đó CONTENT là nội dung chi tiết của đoạn thông điệp. Phần TAG không quá 32 ký tự, bất kỳ ký tự không trong bảng chữ cái đều là ký tự đánh dấu kết thúc phần TAG. Phần lớn, ký tự đầu tiên của phần CONTENT gồm ký tự "[", ":", hoặc dấu cách.

4.2 Nguyên bản của gói tin syslog
Không có yêu cầu cụ thể nào về nội dung của gói tin syslog. Bất kỳ gói tin nào có đích là cổng 514 UDP đều hợp lệ nếu có đúng định dạng của syslog.